ThS. BS. Nguyễn Thị Lan Anh

Họ tên ThS. BS. Nguyễn Thị Lan Anh
Chức danh Báo cáo viên
Địa chỉ email ***@pnt.edu.vn
Số điện thoại **********

PHƯƠNG PHÁP BORDERLINE REGRESSION VÀ CONTRASTING GROUPS TRONG LƯỢNG GIÁ KỸ NĂNG LÂM SÀNG TẠI TRUNG TÂM KỸ NĂNG VÀ SÁNG TẠO MÔ PHỎNG LÂM SÀNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y KHOA PHẠM NGỌC THẠCH

TS. BS. Nguyễn Ngọc Phương Thư1, ThS. BS. Nguyễn Thị Lan Anh1,

Lê Ngọc Phương Mai2

1CECICS – Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch

2Trường Đại học Bắc Carolina tại Chapel Hill (Mỹ)

 

Tóm tắt

Đặt vấn đề

Borderline regression và Contrasting groups là những phương pháp dùng để thiết lập điểm đậu thuộc nhóm Examinee-centered methods theo chuẩn tuyệt đối. Tại Trung tâm Kỹ năng và Sáng tạo Mô phỏng Lâm sàng Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch (CECICS – PNTU), chúng tôi thực hiện những phương pháp này trong lượng giá quá trình khi chạy trạm OSCE hướng dẫn sử dụng bình xịt định liều (OSCE MDI) cho sinh viên y khoa năm thứ 3 chương trình Việt Đức.

Mục tiêu

Xác định điểm đậu theo phương pháp Borderline regression (BRM) và Contrasting groups (CGM) dựa vào đánh giá của quan sát viên về năng lực thực tế của sinh viên khi chạy trạm OSCE và đánh giá kết quả đậu rớt so với phương pháp truyền thống.

Đối tượng và phương pháp

Trước khi tiến hành lượng giá, các giảng viên tại CECICS – PNTU được chọn làm quan sát viên phải trải qua chương trình huấn luyện về 2 phương pháp lượng giá này.

Hệ thống Learning Space thiết kế hai mạch chạy cho 22 sinh viên, mỗi mạch có sáu trạm OSCE, trong đó có một trạm OSCE MDI. Đối với mỗi mạch chạy, có một giảng viên vừa chấm checklist vừa chấm global rating score. Checklist bao gồm 15 mục đã được thực hiện content validity index và content validity ratio (CVI – CVR). Điểm tối đa của checklist là 30 điểm. Kết quả của 22 sinh viên được phân tích với BRM (phân nhóm bốn mức độ Fail/Borderline Pass/Pass/High Pass) và CGM (phân hai nhóm Fail/Pass).

Kết quả

Với phương pháp BRM: Chạy hồi quy kết quả 22 sinh viên, bao gồm cả điểm checklist (tung độ) và global rating score (hoành độ) có phương trình là Y = 4.1667 X + 12.636 và R2 = 0.618. Với X = 2, tương ứng mức độ Borderline Pass, điểm đậu là 20.97. Như vậy, có 2 thí sinh rớt (tỉ lệ 9.1%) và 20 thí sinh đậu (tỉ lệ 90.9%).

Với phương pháp CGM: Kết quả chấm global rating score cũng cho thấy có 2 thí sinh rớt (tỉ lệ 9.1%) và 20 thí sinh đậu (tỉ lệ 90.9%). Đồ thị smoothed cho thấy điểm cut-off là 21.

Với phương pháp truyền thống lấy điểm trung bình, kết quả cho thấy có 100% sinh viên đậu.

Kết luận

Thông qua chương trình huấn luyện giảng viên trước khi tham gia lượng giá, kết quả nghiên cứu cho thấy việc thiết lập điểm đậu của trạm OSCE MDI là nhất quán giữa 2 phương pháp Borderline Regression (20.97/30 điểm) và Contrasting Groups (21/ 30 điểm). Tỉ lệ sinh viên rớt của cả hai phương pháp là 9.1% và tỉ lệ đậu là 90.9%. So với phương pháp thiết lập điểm đậu chuẩn tương đối trung bình truyền thống, tỉ lệ đậu là 100%. BRM và CGM là những phương pháp thiết lập điểm đậu tập trung vào năng lực thực tế của sinh viên nên có độ tin cậy cao hơn và giá trị pháp lý chặt chẽ hơn, thường được sử dụng trong các kỳ thi quan trọng của giáo dục y khoa nói riêng và lĩnh vực sức khoẻ nói chung nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy, lượng giá và chăm sóc sức khoẻ cộng đồng.

 

Từ khóa: Standard setting (Thiết lập chuẩn), Pass score (Điểm đậu), Borderline regression, Contrasting group, MDI, OSCE, Assessment (Lượng giá), Medical education (Giáo dục y khoa), Clinical simulation (Mô phỏng lâm sàng).